Bấm vào hình để xem kích thước thật

Nhận xét kết quả điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue với dung dịch Dextran 40 và dung dịch HES 6% tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

Ngày đăng:  03/12/2010

 
Lượt xem: 5938

Cao Thị Tố Như*, Trần Thị Mộng Hiệp**, Đoàn Thị Ngọc Diệp***

 

TÓM TẮT

 

Sốt xuất huyết Dengue (SXH-D) là một vấn đề y tế quan trọng ở các nước vùng nhiệt đới. Hiện nay, trong quá trình điều trị sốc sốt xuất huyết  việc chọn lựa dịch truyền đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là dung dịch đại phân tử.

Mục tiêu: Nhận xét diễn tiến lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sốc SXH-D với Dextran và HES 6% tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (BVNĐ 2) Thành Phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích.

Kết quả: Hồi cứu 247 hồ sơ bệnh nhân(BN) bị sốc SXH-D nhập BVNĐ 2 từ năm 2003 đến cuối năm 2007, trong đó có 124 BN được điều trị bằng Dextran 40 và 123 BN được điều trị bằng HES 6%. Hai nhóm BN này có các đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng tương đồng. Không có sự khác biệt về lượng dịch truyền và thời gian truyền dịch ở hai nhóm bênh nhi này. Tổng lượng dịch truyền của nhóm dùng Dextran và HES là 200.1 ± 48.2 ml/kg và 188.4 ± 40.5 ml/kg. Tổng lượng đại phân tử  là 65 ± 37.7 ml/kg và 72.8 ± 40.2 ml/kg. Thời gian truyền dịch của nhóm dùng Dextran và HES là 38.5 ± 9.7 giờ và 36.9  ±  8.1 giờ. Thời gian truyền đại phân tử  của nhóm dùng Dextran và HES là 10.1 ± 8 giờ và 13.2 ± 9.4 giờ. Tỷ lệ suy hô hấp ở nhóm dùng Dextran cao hơn ở nhóm dùng HES một cách có ý nghĩa là 65.3% so với 52.8% (p<0.05). Tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa ở nhóm dùng Dextran cao hơn ở nhóm dùng HES một cách có ý nghĩa là 26.6% so với 7.3% (p<0.05). Tỷ lệ ra sốc, tái sốc, sốc kéo dài, suy gan, suy thận, tử vong không có sự khác biệt ở hai nhóm dùng Dextran và HES. Có sự thay đổi đáng kể trước và sau khi truyền Dextran và HES ở các xét nghiệm Hct, Ure trong máu, TT, Fibrinogen. Không có sự thay đổi trước và sau truyền Dextran và HES ở các xét nghiệm chức năng gan, ion đồ máu. Không có sự khác biệt về mức độ thay đổi cận lâm sàng trước và sau sử dụng đại phân tử giữa hai nhóm dùng Dextran và HES. Tỷ lệ run tiêm truyền của nhóm dùng Dextran  là 8.9% cao hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm dùng HES. Thời gian nằm viện của nhóm dùng Dextran là 7.8 ± 2.6 ngày cao hơn  một cách có ý nghĩa so với nhóm SXH-D điều trị bằng HES là 6.9 ± 2.1 ngày ( p<0.05).

Kết luận: Các thông số đánh giá hiệu quả điều trị của Dextran 40 và HES 6% là tương đương nhau trong điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue. Tỉ lệ run tiêm truyền của Dextran 40 cao hơn HES 6% trong nghiên cứu này

  ABSTRACT

TREATMENT   RESULTS   OF   DENGUE   HEMORHAGIC   FEVER   SHOCK   BY   DEXTRAN   40   AND   HES  6%   AT   CH I LDREN’ S  HOSPITAL   2   –   HCMC

 

Dengue hemorrhagic fever (DHF) is an important health problem in tropical countries. Currently, in the treatment of DHF shock, chosen fluid plays a very important role.

Objective: To evaluate clinical progession, para clinical progession and outcome of DHF shock patients were treated with dextran and HES at Children's Hospital 2  in Ho Chi Minh City.

Methods: Retrospective cross-sectional studies

Results: Retrospective of  247 cases DHF shock at Children's Hospital 2 during from Jan, 2003 to december, 2007. 124 cases in the group were treated with Dextran40 and 123 cases in the group were treated with HES6%. The characteristics of these two groups patient were similar about epidemiology, clinical and  para clinical. There were no differences about total fluid volume and  infused time in these two groups patient . The average amount of infused  fluid of Dextran group and HES group were 200.1 ± 48.2 ml / kg and 188.4 ± 40.5 ml / kg. The average amount of  infused Dextran was 65 ± 37.7 ml / kg and the average amount of infused HES was 72.8 ± 40.2 ml / kg. Infused fluid time of group patient received Dextran was 38.5 ± 9.7 hours and group patient received HES were 36.9 ± 8.1 hours. Infused Dextran time  and  infused HES time were 10.1 ± 8 hours  and 13.2 ± 9.4 hours. Rate of respiratory failure of children in the group who received dextran was higher than children in the group who received HES meaningfully (65.3% compared with 52.8% (p <0.05)). Rate of  gastrointestinal bleeding of children  in the group who received dextran  higher than children in the group who received  HES meaningful (26.6% compared with 7.3% (p <0.05)). There were not different between two groups children who received dextran and HES about rate of shock, recurrent-shock, prolonged  shock, liver failure, kidney failure, death. There was a significant change before and after Dextran infution and HES infution in the hematocrit, blood urea, TP, Fibrinogen. There was no change before and after Dextran infution and HES infution in the SGOT, SGPT, electrolytes. There was no difference about the change of para clinicals before and  after macromolecules infution between the two groups children who received dextran and HES. Rate of allergic reaction of children who received Dextran was 8.9%  higher than children who received HES meaningfully. Time in hospital of children who received Dextran was higher than the time in hospital of children who received HES meaningfully (7.8 ± 2.6 days compared with 6.9 ± 2.1 days (p <0.05)

Conclusion: The parameters evaluating the treatment results of Dextran 40 and HES  are not significantly different in treatment of DHF shock. The rate of allergic reaction in Dextran 40 group is higher than HES 6% group.

 

(*) Học viên cao học khóa 2008-2010 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang.

(**) Giảng viên Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch, Trưởng khoa Thận - Nội tiết Bệnh viện Nhi Đồng 2

(***) Giảng viên Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2

Đăng bởi: BS. Cao Thị Tố Như

[Trở về]

Các tin khác